PHÊ BÌNH: ĐỌC THƠ NGUYỄN VĂN TÀI - NGUYỄN ĐỨC THIỆN

NGUYỄN VĂN TÀI

VỚI NHỮNG TRẢI NGHIỆM TRONG THƠ

Nguyễn Đức Thiện

(đọc thơ Nguyễn Văn Tài)

 

ảnh Nguyễn Văn Tài

                Một chút năng khiếu một chút si mê thêm một chút kỹ thuật dùng chữ thế là sẽ có người làm thơ. Từ những chút chút ban đầu ấy rồi thêm sự kiên trì nữa chúng ta có thêm một người làm thơ đến được với công chúng. Tôi nói điều này khi trong tay tôi có một tập bản thảo của Nguyễn Văn Tài một người làm thơ khá quen thuộc với độc giả Tây Ninh. Thơ anh in trên Báo Tây Ninh Văn nghệ Tây Ninh một số tờ báo của tỉnh bạn và đã có lúc được giới thiệu trên Văn nghệ trẻ ( Hội Nhà văn Việt Nam). Nhìn những dòng chữ của anh không ai biết được anh tích cóp chữ từ lúc nào để có hàng trăm bài thơ như thế này. Lại càng không hiểu trong cuộc sống đời thường anh vất vả gian nan lo cho mình sống vợ sống và các con ngày càng lớn ngày nhiều nhu cầu sống. Chúng ta đã biết đến Tạ Văn Sĩ chạy xe ôm mà làm thơ. Cũng nên biết thêm một người đã từng đi bán hàng rong mà làm thơ đó là Nguyễn Văn Tài ở Tây Ninh.


               Lang thang dọc ngang phố xá và thôn quê Tây Ninh Nguyễn Văn Tài đã lượm từng giọt thơ cho mình. Khó khăn là vậy mà trong thơ anh khó tìm thấy những riêng tư buồn thảm cám cảnh. Hình như những lúc dong duổi ấy Nguyễn Văn Tài đã tìm thấy những ý thơ tứ thơ không chỉ cho mình mà cho cả cuộc đời mình. Anh đã đến chợ. Chợ là nơi hội tụ kẻ bán người mua. Là nơi thật thà nhiều cũng nhiều gian dối. Thời nào chợ chả thế. Chợ với anh quen đến nỗi nằm ngủ mơ cũng thấy chợ. Cái anh mơ thấy rõ là một trò dối gian: mãi võ trò ảo thuật để rao bán cái gọi là thứ thuốc thần tiên chỉ năm cắc một đồng. Mà khi đã mơ rồi thì ai chẳng muốn mơ thấy những điều tốt đẹp:

" Và chợ còn nguyên hình dáng chợ

 mà người mua bán ít đo cân"

 ( MƠ VỀ PHỐ CHỢ).

Đúng là mơ thật. Những thư ngày xưa ông bà ta chỉ bán mớ mua mão còn bây giờ đến cả cọng hành củ tỏi người ta cũng phải cân khi bán. Những người mua tha hồ mặc cả cái cân" thật thà công bằng kia" liệu có ai tin. Dẫu sao Nguyễn Văn Tài cũng có một giấc mơ đẹp giấc mơ của một người thật thà. 

Tôi theo đà lang thang của Nguyễn Văn Tài đến những nơi anh đến. Có lẽ trong anh luôn mong tìm đến sự an nhiên. Những người anh gặp lần lần hiện ra trong thơ anh. Một lão kép già. Đúng ra phải là anh kép nhưng bây giờ già rồi thì là kép lão thôi. Lão kép ấy ngày trẻ đã từng vung giáo múa gươm trên sân khấu để diệt ác trừ gian. Vung giáo múa gươm cả một đời làm hiệp sĩ trên sân khấu những mong trả cho nhân dân những giọt mồ hôi những giọt máu và cả công lý nữa.  Nhưng rồi  Nguyễn Văn Tài đã kêu lên:

 " Hiệp sĩ ơi!

 nay tóc điểm sương rồi

 vì cuộc sống dâng cho đời nghệ thuật

 hay tiếc thương những gì mất mát

 mà trọn đời đi tìm lại cho đời".

 Bóng hình kép lão ấy đã "rơi vào bản thảo" bằng " dào dạt câu thơ" [1]( NGƯỜI KÉP LÃO TRONG TÔI). Này đây thêm một người nữa mà Nguyễn Văn Tài đã gặp đó là người hành khất. Mà lại là người hành khất xỉn say. Phàm là người uống rượu lúc say là lúc thật lòng nhất. Chính từ lúc thật lòng nhất ấy người hành khất đã hát lên những khúc hát thật lòng nhất đó là:

" ... những lời ca kiêu ngạo

 nào nghiệt ngã/ nào đắng cay

nào đau khổ xem thường"

 và vì thế người thơ vận ngay được vào mình:

 " lặng lẽ chiều nay/ bất chợt

 lâng lâng một niềm an ủi

 chút ấm lòng trên phố nhỏ mưa bay".

 Người hành khất vô tư hát những khúc hát người say mặc kệ cuộc đời mình gian nan khổ ải sống bằng lòng thương hại của chúng sinh vậy thì người thơ sao chẳng:

 " ngửa mặt nhìn trời trời xanh dữ lắm

 trời cao rộng lòng ta tràn sức sống

dẫu mai này hành thực nẻo tha hương"

( THEO TIẾNG HÁT NGƯỜI HÀNH KHÂT).

 Còn hào sảng gì bằng. Cũng với cách hào sảng ấy Nguyễn Văn Tài đến với bạn văn xưa:

" Mắt vương mấy cọng nắng chiều

 bạn xưa cây bút giờ treo đầu giường".

 Có nghĩa là bạn không còn viết nữa. Có bao nhiêu cách để cho bạn không viết; vướng bận làm ăn vướng bận gia đình thất bại trong chuyện văn chương thậm chí có người chán đời không viết nữa. Nhưng rồi khi gặp lại chuyện văn chương chỉ hai đứa thôi cũng xôm tụ khác thường. Ai chẳng có một thời hoàng kim cũng chẳng thiếu người đang hoàng kim bỗng trôi tuột xuống đáy cuộc đời. Ấy là người thường còn những ai đã chót đa đoan với văn chương dù ở tót vời vinh thăng hay rớt xuống chính tầng địa ngục khi gặp bạn bè thì:

 " chuyền ly ta uống với mình

 mình với ta nhớ hành trình đã xa".

Có thế mới ngồi được với nhau mới nên tình nên nghĩa và nhờ thế dù bạn bây giờ không viết nữa thì: 

" Hỏi mình hỏi cũng bằng không

 tim còn đập

hẳn chưa xong nghiệp trần

 vẫn cầm tay nhắn nhủ rằng

 trèo non vượt thác cũng cần bạn xưa"

( TÌNH XƯA VỚI BẠN VĂN XƯA) .

Tôi tin không chỉ người thơ cần mà cả bạn của người thơ không còn làm thơ nữa vẫn cứ phải cần bạn xưa. Cái tình cái nghĩa thuỷ chung là như thế mãi mãi thế.

Cũng lạ chính những ngày gian nan kiếm sống ấy Nguyễn Văn Tài đã tìm ra được những thứ mà ít  người tìm thấy được. Tôi cho rằng cái mà Nguyễn Văn Tài tìm thấy không chỉ là chỗ dựa cho thơ anh mà còn là cái ghế vững chắc để sau những lang thang anh ngồi lại mà chiêm nghiệm cuộc sống chiêm nghiệm cái mình đã thấy đã nghe đã trải. Lên chùa chẳng hạn. Khi lên chùa là người ta nghĩ đến mấy việc phải làm: Tụng kinh niệm phật cầu bình an giải hạn. Thế mà có lần Nguyễn Văn Tài đã:

" buồn như em bước vô chùa

 đi ra mất dép chiều mưa thật phiền

 buồn như ông thánh ông tiên

 lim dim đôi mắt như tìm kẻ gian".

 Hôm ấy chắc hẳn người thơ có một điều gì giăng mắc buồn trong người. Nhưng ở một lần khác lên chùa Nguyễn văn Tài bỗng tỉnh táo hẳn. Một cuộc đối thoạt thật có duyên trong bài: NHỮNG ĐOẢN KHÚC LÊN CHÙA. Lên chùa mà em hỏi trời? Em có thấy không: "Chùa còn sợ những cơn mưa" đó. Thì lên chùa hỏi đạo hỏi đời là phải rồi. Nhưng em có biết không:

" nhìn vào ngực phía con tim

 niềm tin ừ chỉ nên tìm trong ta".

Em còn hỏi người già chết sẽ về đâu. Niết bàn hay cực lạc? Cái đó thì vô phương nào ai biết. Ồ thì ra không phải chuyện trời đất chuyện thần tiên chuyện cõi nào xa lắc cuối cùng chỉ là cái cớ để hai đứa đến cái cần hơn cả là hiểu về nhau đến với nhau:

"Đời chưa nhuộm mái tóc xanh

 tình yêu đây buổi ngại ngần trao em...

 lên chùa hai đứa cùng lên

 chốn trang nghiêm bỗng hồn nhiên với tình".

 Thế thì hồn nhiên thật trong sáng thật và... yêu thật rồi.

Lang thang với những trang thơ Nguyễn Văn Tài tôi bỗng thấy một bài thơ thật hay không thể không nói riêng về nó. Đó là bài: MẤY KHÚC NỘI Ô. Quả thật khi đọc bài thơ này tôi cũng có tâm trạng không nỡ như anh vì bỗng thấy

" chùa chợ bây giờ bề bộn thế sao?"

 ngay ở nơi tôn nghiêm như thế. Cái sự tôn nghiêm ấy đã bị phá vỡ bởi:

‘" nội ô xô bồ nội ô leng keng

 chuông càrem át lời kinh cầu nguyện

 vài khách lạ từ miền xa mới đến

 đứng ngẩn ngơ giữa chợ và chùa".

Đành rằng không chỉ bây giờ mà bao giờ cũng thế cứ ngày hội các chùa từ bắc chí nam bên cạnh những hoạt động tôn nghiêm là những hoạt động khác ngoài LỄ mà người ta gọi là HỘI. Mà đã là hội thì phải vui phải cười phàn nàn bán bán buôn buôn. Bán buôn hàng hóa và bán buôn cả thánh thần. Không thể tin nổi có nơi những kẻ hám lời trong một hệ thống chùa nghiêm trang dám dựng thêm chùa gỉa để ngày lễ hội tranh thủ gom tiền công đức của khách thập phương. Thế là bên cái tôn nghiêm bị những cái khác làm cho mờ nhạt đi sao nhãng đi. Nhiều khi cái HỘI tưng bừng đến mức khiến cho những người đến chùa với khái niệm là để đi chơi. Cái xô bồ của xã hội bên ngoài lấn át nơi tôn nghiêm khiến cho tất cả những ai muốn tĩnh tâm đến chùa không sao mà tĩnh nổi. Bài thơ không chỉ là nỗi niềm mà còn mang cả tính phổ quát nữa. Không thể khác được muốn tĩnh thì tự tĩnh lấy thôi. Nên người thơ đành :

" Trời xanh trong và xa lắm chân mây

 Phật phi ngựa qua ngàn năm hoá đá

 còn trong tôi tôi thèm như chiếc lá.

Giữa cánh rừng ào ạt những suy tư".

 Một sự so sánh mới khéo làm sao. Đương nhiên tôi chẳng bằng người. Người được tạc thành đá để thờ. Và dù người đứng đó có tới ngàn năm thì cũng chẳng thể biết những vần xoay của cuộc đời. Nơi người được tôn thờ bây giờ lẫn lộn giữa chợ và chùa người làm sao biết. Còn tôi tôi chỉ là chiếc lá mong manh giữa dòng đời này một cơn gió thoảng qua thôi cũng làm tôi xao xuyến. Và giữa chợ và chùa tôi còn mang được đến đây một bài thơ để : " cùng góp mặt cho đời thêm muôn vẻ" Thơ tôi không bán được nhưng có thể nói thay cho bao nhiêu người mong chùa mãi là chốn tôn nghiêm. Tôi nói Nguyễn Văn Tài chiêm nghiệm được trải nghiệm được là ở chỗ này.

Tuy nhiên cũng cần phải nói thêm với Nguyễn Văn Tài một điều. Trong gần một trăm bài thơ của anh có những bài thơ nói về quê hương nói về con về vợ. Hầu hết những bài này thường bị căng cứng quá một chiều quá khiến nó khô khan. Có những bài mang tính phục vụ có thể đọc ở những nơi công cộng được. Thậm chí có những bài tâm sự với bạn bè anh cũng bị cách diễn giải cũ lôi kéo không hấp dẫn người đọc. Người thơ rất cần có sự làm mới mình và làm mới thơ mình. Nếu bị dòng thơ cũ chi phối thì khéo cách mấy cũng không thể tránh được sự lặp lại có khi lặp lại cả chính mình. Đó là điều tối kỵ của người làm thơ. Có một số hình ảnh bị lạm dụng nhắc đi nhắc lại nhiều lần không cần thiết. Nếu tác giả mạnh dạn lược bỏ bớt những bài thuộc dạng đã nhắc đến như trên Nguyễn Văn Tài sẽ có một tập thơ vừa dày dặn vừa chí nghĩa chí tình.

Không phải vô tình mà Nguyễn Văn Tài viết:

" Tôi cầm thơ tôi đứng xếp hàng

 chờ đến lượt mình bước qua ngưỡng cửa".

Ngưỡng cửa của người thơ là cái gì là cao hay thấp? Không ai biết chỉ biết rằng: "người thơ đã trải hết mình trong từng con chữ và mong đời chấp nhận". Nguyễn Văn Tài đã làm như thế và đang làm như thế. 

bỒ cÂU

"TỪNG ĐI BÁN CAREM DẠO MÀ LÀM THƠ".hOAN HÔ NG.VĂN TÀI!dÚNG LÀ CHIẾC ÁO KHÔNG LÀM RA HÒA THƯỢNG ĐÓ NHÉ!CHỨNG TỎ NGỌC VÙI TRONG BÙN VẪN LÀ NGỌC VÀ NGƯỢC LẠI.hOAN HÔ !