BÚT KÝ: ĐÀI GIẢI PHÓNG TRÊN VAI CHIẾN SĨ - LA NGẠC THỤY

Đài giải phóng trên vai chiến sĩ

La Ngạc Thụy

 

         Không thể chờ được rồi. Tôi dự định chờ đến năm 2006 đúng 45 năm mới khai bút ghi lại những kỷ niệm vui buồn đáng nhớ trong những ngày tháng đầu đời tham gia kháng chiến. Nhưng trước những sự kiện trọng đại của ngày 30-4-2005 ngày mà cả nước hân hoan chào đón lần thứ 30 kỷ niệm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước nên tôi không thể dừng được và ký ức dường như không chịu nằm yên những sự kiện những kỷ niệm của năm 1961 ấy cứ thôi thúc tạo thành dòng suối đầu nguồn khi gặp cơn mưa lớn cuồn cuộn đưa nước chảy về xuôi và tôi không thể dừng….

 Tháng 3 năm 1961 sau đợt phá kềm Trảng Bàng như bừng dậy mãnh liệt hơn và chính thời gian này tôi thoát ly vào chiến khu Bời Lời. Ngày ra đi không một người thân nào tiễn đưa với mớ hành trang mà mẹ tôi gói ghém để tôi ăn theo đường. Một nải chuối sứ một túi gạo bọc muối sả ớt chiếc võng gai...tất cả được đựng trong chiếc gàu giai rách mà mẹ tôi tẩn mẩn lôi từ trên gác xép xuống sắp soạn cho tôi. Cùng với chiếc gàu đó là cây đờn kìm thân thương quàng lên vai để nguỵ trang qua những đôi mắt cú vọ của bọn dân vệ lính kín Tư Trắng ngoài Trảng Bàng. Và như một sự ngẫu nhiên trên đường vào cứ tôi gặp anh Mười Tây và cả hai vượt lộ 6 ở Lộc Hưng lên bàu Hai Năm sở cao su Thầy Bảy Trảng Sa băng qua Suối Lội sa Ong Quyển tua Cây Cám rồi mới tới Bời Lời. Đơn vị đầu tiên tiếp đón chúng tôi là là Đoàn Văn công giải phóng tỉnh và cũng là đơn vị mà tôi gắn bó không rời sau ba tháng loay hoay hết đào công sự đến đào giao thông hào chúng tôi mới chính thức là chiến sĩ văn hoá tháp tùng theo đoàn đi biểu diễn phục vụ đồng bào chiến sĩ khắp miệt đồng bằng Tây Ninh Bến Cát Củ Chi...ở Đoàn Văn công Tây Ninh.

Sau khoảng thời gian ở đoàn tháng 6 năm 1961 tôi được anh Hai Lý Văn sâm chú ý xin chuyển tôi sang Đoàn Văn công giải phóng trực thuộc trung ương Cục và được anh Tư Văn đồng ý. Buổi chia tay thật xúc động và đầy ắp kỷ niệm mà tôi không thể nào quên. Đó là bữa tiệc bánh xèo tại nhà má Muời ở Chòm Tre mãi mãi hằn sâu vào ký ức nhất là những lời dặn dò tâm huyết với ước mong tôi nhanh chóng tiến bộ ở đơn vị mới của anh Tư Văn. Tôi từ giả căn cứ Bời Lời từ đó theo đoàn sang Bến cát vượt lộ 13 Phú Giáo về Rừng Le C300 bàu Cá Trê Đồi 800 cuối cùng về C101 đóng quân tại căn cứ R. Tại căn cứ tháng 7 năm 1961 trời cứ mưa sùi sụt rả rích suốt ngày đêm. Lạnh. Cái lạnh của mưa rừng không đến nỗi trùm chăn nhưng nếu không hoạt động cả người cứ run từng chập. Một công việc hệ trọng đến thật đúng lúc. Chỉ được phổ biến là việc hệ trọng nhưng cụ thể là gì thì không một ai được biết. Chúng tôi dựng cứ rồi đi tải gạo tải máy móc kỹ thuật và con đường đi tải không in dấu chân người. Đoàn quân cứ đi và "bẻ cò cây" khi đi qua để ghi dấu nhớ đường về. Từ Trạm 1 đến cơ quan Ban Tuyên huấn R phải vượt qua mười quả đồi bốn con suối dài. Suốt từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1961 chúng tôi cứ làm nhiệm vụ dựng cứ và đi tải tải đủ thứ từ gạo muối đường sữa... cho đến những thiết bị máy móc xăng dầu. Trung đội trưởng căn cứ Năm Đen ra lệnh và chúng tôi răm rắp làm theo không một lời thắc mắc hỏi han vì đó là quân lệnh. Nhưng trong lòng ai cũng đoán già đoán non rằng sắp có chiến dịch lớn. Đoán thì đoán vậy thôi lệnh ban ra thì phải chấp hành triệt để. Lần này anh Năm Đen cho biết sẽ đi tải "một chiếc máy bự chảng" và phải qua chặng đường vô cùng nguy hiểm và điểm hẹn không phải ở Đất Cuốc Sông Bé mà ra tận Tỉnh lộ 14 vượt qua Tân Tịch Thường Lang... với khoảng thời gian đi là năm ngày đêm nhưng về thì không thể nói trước được vì phải mang vác nặng nề. Cánh trẻ khoẻ mạnh thì đi tải già yếu bệnh hoạn thì ở căn cứ san nền đốn cây bẻ lá Trung quân đào giao thông hào để xây dựng Hội trường ban Tuyên huấn R. Hội trường thật rộng lớn phải lợp đến hơn ba mươi ngàn nẹp lá Trung quân nên ngày khánh thành Hội trường chú Năm Quang Trần Bạch Đằng đặt tên là "Hội trường Trung quân". Và cũng chính trong ngày này chúng tôi mới biết những máy móc thiết bị mà chúng tôi tải về là để xây dựng Đài Phát thanh Giải phóng.

Một ngày chủ nhật thật đẹp trời. Dù khuất dưới những tán cây rừng dày đặc cả căn cứ như vẫn sống dưới ánh nắng rực rỡ đặc biệt là chúng tôi những người vận chuyển khi nghe chú Năm Quang thông báo: "Ta sẽ phát sóng thử đài". Anh em nhảy cởn lên mừng rỡ cùng với tiếng vỗ tay hoan hô kéo dài bất tận tưởng chừng như không bao giờ dứt. Cả cây rừng cũng hớn hở cành lá xôn xao. Nhưng có một điều làm chúng tôi không thoả mãn là đài xây dựng ở đâu vẫn còn là bí mật.

"Đài Phát thanh Giải phóng" ra đời đánh dấu một bước ngoặc lịch sử trong quá trình kháng chiến chống Mỹ. Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam đã có tiếng nói chính thức với bạn bè thế giới. Và ban bệ đài như đã có cơ cấu tổ chức từ lâu. Phát thanh viên với giọng nữ ấm áp của chị Xuân Việt phụ trách chương trình tiếng Pháp là chú bảy Kỉnh chú năm Thưởng; tiếng Anh có chú tư Điện; tiếng Hoa có anh Lý Thắng Ngô Quân... Chúng tôi Đoàn Văn công được làm nhiệm vụ chuyên môn của mình: phụ trách chương trình văn nghệ cho đài. Dàn tân nhạc với anh Nguyễn Khánh đàn Accordéon anh Nguyễn Diệp thổi sáo anh Phạm Minh Tuấn đàn ghi ta Espanion chị Vân đàn Violon. Dàn cổ nhạc do chú hai Khánh đàn tranh và cò anh Phong Quang đàn ghi ta phím lõm... và tôi đàn kìm. Sau thời gian tập dượt trong tinh thần trách nhiệm cao chúng tôi hoàn thành chương trình phát sóng thử. Thật hồi hộp trong ngày bấm máy thu với chiếc ghi âm hiệu Hốt-nơ và chú Nguyễn Văn Hiếu tự Tư Châu (sau giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hoá) trực tiếp ghi âm cùng thiếm tư Mã Thị Chu (trong phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời sau này).

Những buổi tập dượt chương trình văn nghệ phục vụ đài với những bài hát điệu đàn không thể nào quên và ghi mãi trong ký ức tôi cho đến hôm nay. Tân nhạc với bản "Nhà Việt Nam sáng trưng Á Đông" "Bốn ngàn năm đó" "Chàng đi theo nước".... Cổ nhạc với các bài "Mặt trận Dân tộc giải phóng ra đời" "Bá Nha ngộ Tử Kỳ". Truyện đọc thì do chú Năm Quang chọn đọc trích đoạn "Võ Tòng đả hổ trên đồi Cảnh Dương"...Nội dung chương trình văn nghệ thật "vô thưởng vô phạt" với mục đích đánh lừa địch không thể biết do đài nào phát và ở đâu của ai? Một kỷ niệm còn ghi mãi dấu ấn là khi anh Hoàng Phương ca bài "Mặt trận Dân tộc giải phóng ra đời" của nhạc sĩ Xuân Hồng được chú Hai Lý chuyển sang cổ nhạc lúc dây thấp lúc dây cao khiến người ca "trật tới trật lui" và người thu âm suốt cả ngày "xệ cả mắt kiếng". Đặc biệt là tên tác giả bản nhạc "Giải phóng miền Nam" của chú Lưu Hữu Phước khi gởi về đài ký tên là Huỳnh Minh Liêng. Thế nhưng không hiểu do kỹ thuật in bột thời bấy giờ thế nào mà chữ L hoa trở thành chữ S hoa nên tên Liêng biến thành tên Siêng và kể từ đó bản nhạc mang tên tác giả là Huỳnh Minh Siêng cho đến tận hôm nay.

Đài Phát thanh Giải phóng do kỹ sư Tám Thắng phụ trách sắp phát sóng. Trên dốc đồi thoai thoải là dãy nhà của biên tập đài lợp lá Trung quân nép bên hàng bằng lăng nở tím mọi người đang :"túm tụm" bên nhau hồi hộp chờ nghe đài phát sóng lần đầu tiên. Chú Năm Quang chú Tư Châu chú Bảy Kỉnh chú Năm Thưởng chú Tư Điện anh Bảy Nhỏ anh Năm Cảnh anh Lang Ngọc Anh chú hai Lý văn Sâm anh Phan Thế Phạm Minh Tuấn... ai cũng hồi hộp trong không khí chờ nghe thật tĩnh lặng thời gian dường như chững lại chìm đi tất cả cùng yên lặng đến khó thở... và bầu không khí tĩnh lặng đó bỗng oà vỡ nổ tung khi tiếng chị Xuân Việt vang lên câu đầu tiên phát ra từ đài: "Đây là Đài Phát thanh Giải phóng - Tiếng nói của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam" rồi chợt lặng đi yên ắng. Tôi đưa mắt nhìn quanh gương mặt người nào cũng thật rạng rỡ nhưng đôi mắt thì ngân ngấn lệ. Niềm hạnh phúc lan toả nhanh chóng thấm sâu vào tận cùng ký ức những người có mặt và tôi chắc chắn không ai hạnh phúc hơn chúng tôi - những người suốt năm tháng qua âm thầm lặng lẽ chuyển tải thiết bị máy móc tập dượt dựng chương trình với bao gian khổ để hôm nay chỉ cần nghe câu "Đây là Đài Phát thanh Giải phóng - Tiếng nói ...". Đúng là tiếng nói của cả một dân tộc đã vang lên bay vào không gian đến tận mọi tầng lớp nhân dân. Trong không khí im ắng đó bỗng chú Năm Quang chú Tư Châu chú Hai Lý cùng vỗ tay rồi ôm nhau vui mừng reo lên: "Cà Mau bắt được đài rồi! Hoan hô hoan hô...". Chú Bảy Kỉnh từ bên ngoài cũng chạy vào báo tin: "Khu 6 Bác Ai Bình Thuận bắt được sóng rồi! Rõ lắm rõ lắm..." Anh em văn nghệ sĩ cả cơ quan Ban Tuyên huấn R chúng tôi như chợt tỉnh biểu lộ niềm vui càng sống động hơn. Mọi người cùng bá vai nhau bắt tay giật giật cùng la ó: "Có đài rồi! Đài Phát thanh Giải phóng đã chính thức ra đời rồi!"

Không nỗi mừng vui nào hơn khi Cách mạng miền Nam đã có tiếng nói chính thức trên diễn đàn chính trị. Có điều để tiếng nói đó mãi mãi vang vọng động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân ta với những tin chiến thắng khắp miền Nam và những lời ca tiếng hát thúc giục lòng quân ... Đài phải di chuyển đến nơi an toàn hơn. Đầu tháng 12 năm 1961 cả Ban Tuyên huấn R nhận lệnh từ anh Năm Cảnh - Văn phòng Ban: "Cả cơ quan sẽ hành quân xa trên đường vạn lý. Tất cả chuẩn bị sức khoẻ cá nhân gọn nhẹ. Các đồng chí già yếu bệnh binh đi trước. Lần hành quân này rất gian khổ nặng nhọc các đồng chí phải chuẩn bị tinh thần với quyết tâm thật cao". Rồi lệnh hành quân bắt đầu sau một đêm ca hát liên hoan. Máy móc thiết bị đài được rã ra từng bộ phận ... hoặc vác hoặc khiêng tất cả đều trên đôi vai chiến sĩ thay phiên nhau hành quân cả ngày và đêm.

"Khi xuống vực - hai khiêng hai đỡ.

Lúc lên đèo hai đẩy hai khiêng.

Đói lòng ăn nửa vắt cơm.

Uống bụm nước suối ... ngày đêm dặm dài"

Đó là những nỗi gian nan vất vả của chúng tôi được cô đọng lại thành bài hát và theo chúng tôi ruổi dong vạn lý. Sau hai ngày đêm chúng tôi mới tới mép sông Mã Đà. Trong nhật ký vạn lý của tôi còn ghi:

"Sông Mã Đà nước sông cuồn cuộn.

Vực bờ sâu lên xuống khổ thay!

Cưa cây dầu bóng ngã dài.

Bấm chân đòn nặng .. lần hồi bước qua"

Những địa danh trên đường vạn lý nào Rừng Vắt lộ Mã Đà đồi Thao Lao sông Rạt cầu Mây... lần lượt qua đôi chân suốt mười hai ngày đêm mới đến địa phận Phú Giáo chuẩn bị vượt lộ 13 Chơn Thành Xa Cam Xa Cát. Lại là những:

"Đường ta qua không một dấu chân người

Chỉ có chim bù chao đón chào ca hát".

Ca hát cái nỗi gì! Ở rừng mỗi khi nghe tiếng chim bù chao ong óng là mình sợ "lũ biệt kích" đánh lén "thấy mồ". Thời điểm này bộ đội địa phương Chơn Thành đã đánh đồn Nguyễn Đình Quát diệt ác phá kềm bao vây đồn bót mở rộng vùng giải phóng. Công nhân Xa Cam Xa cát Hớn Quản Lộc Ninh cũng dấy lên phong trào dân chủ dân sinh... Bọn tề nguỵ ở dọc lộ 13 lo sợ như gà mắc tóc. Lộ 13 không lúc nào vắng bóng lữ đoàn Dù tuần tiểu trong tâm trạng lo sợ dáo dác dòm ngó... Rồi thì đại bộ phận cánh quân cũng vượt lộ an toàn và dừng dưỡng quân ba ngày tại bên kia Đồng Dầu dọc Suối Le. Càng về gần Tây Ninh lòng tôi càng nao nao đến lạ. Lại ngủ đêm Minh Thạnh Cần Lê. Lại gió xuân đêm hai mươi ba Tết. Lại hành quân hăm hở đường về. Đất Tây Ninh kia rồi. Tôi nghe rõ tiếng anh Năm Cảnh anh Sáu Huyện tươi cười nói với nhau: "Phải qua sông Sài Gòn đã chớ".

"Sông Sài Gòn... phía thượng nguồn

Lòng sông hẹp quanh co nước xiết..."

Trời hởi... Tây Ninh đây sao? Tây Ninh của tôi...Con rạch Cả Cùng đồng cỏ Lộc Ninh Trảng Mai rừng Nhàu sa Ong Chắc... Đã ba mươi Tết dù có phấn đấu thế nào cũng không về căn cứ được trước Tết. Con lộ đỏ Bàu Cỏ án ngữ trứơc mặt với mấy đồn dân vệ Khê Đon Bàu Bắc kia rồi. Tôi ngước nhìn bầu trời Tây Ninh đúng vào đêm ba mươi Tết đầy sao sáng. Nhìn dọc hướng về xóm nhà dân đèn sáng đỏ từ lâu. Pháo tết nổ ì đùng. Bọn dân vệ cũng bắn súng đì đùng lẹt đẹt vài loạt carbine...

Qua lộ nửa đêm. Anh Tư Minh cho dừng quân nghỉ tạm. Anh đến tổ khiêng máy số 9 của tôi:

-         Đi bây theo tao ba đứa!

-         Đi đâu anh Tư? Tôi hỏi.

-         Quay lại ghé quán bên đường hồi nảy đó mua ít bánh kẹo...

-         Trời đất...

-         Bao xa mà trời với đất! Đi!

Dọc đường anh Tư Minh nói: "Một lát hội quân ở Giếng Thí gần lộ ủi Trần Lệ xuân cánh quân mình có bánh kẹo mà đón giao thừa chứ!"

Quán tạp hoá bên đường cũng đang lăng xăng đón Tết. Thấy chúng tôi bà chủ quán bật kêu lên:

-         Trời đất. Mấy ông Mặt trận hả!

Anh Tư Minh điềm nhiên:

-        Tụi cháu ghé quán mua ít bánh kẹo lát dừng quân có mà đón giao thừa.

Bà chủ quán tốt bụng nhất định tặng cho chúng tôi mấy bịch bánh ngọt kẹo đậu kẹo lẻ...không lấy tiền.

Cô gái con bà chủ quán mặc áo tay phùng lấp ló sau lưng e dè hỏi:

-         Mấy ông Việt Cộng hả má?

Bà chủ quán kín đáo đánh đét vào mông cô gái một phát:

-         Nhỏ khùng! Mấy anh Mặt trận chớ Việt Cộng nào!

Anh Tư Minh móc tiền ước lượng giá bánh kẹo rồi để dằn dưới bọc nhang thơm trên quầy. Xong phất tay kéo đi. Không khí bên trong quán dường như im lặng hẳn.

Đồng Giếng Thí rừng Trâm Sừng là vạt rừng thưa trảng trống nhưng đầy sao sáng đón mừng buổi hội quân đón giao thừa. Bếp than đỏ lửa nấu nước pha trà hâm nóng thức ăn trông thật vui mắt. Đúng là vui về tới cứ rồi không vui sao được. Cả đoàn quân vui tết giữa đồng trảng Tây Ninh chắc không ai chạnh lòng cùng tôi:

Xuân sáu mốt trốn chui trốn nhủi

Tết sáu hai Giếng Thí Trâm Sừng

Mới đó - từ Mã Đà vạn lý

Nay thì đường Giếng Thí - hành quân!

Mừng Xuân 2006 nhớ xuân 1961. Tôi ngẫm ngợi và ghi lại để có gì gọi là "công trình" chào mừng ba mươi năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Quá trình từ lá cờ "xanh đỏ vàng sao" đến ngọn cờ "cờ đỏ sao vàng" đã có bao nhiêu đồng chí đồng đội nằm xuống cho đất nước đứng lên. Từ cái Đài Phát thanh Giải phóng nặng oằn trên vai chiến sĩ nay đã có cơ ngơi hiện đại và ai quên ai nhớ.

(viết theo lời kể của soạn giả Đỗ Thanh Hiền-

                                  nguyên Chủ tịch Hội VHNT Tây Ninh)